Việt Nam đang đẩy mạnh đầu tư công để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Ảnh minh họa

Còn nhiều hạn chế về tài khóa và tiền tệ

Hiện nay, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 8,3% đến 8,5% cho năm 2025 và đạt mức tăng trưởng hai con số trong những năm tiếp theo, nhằm đưa nền kinh tế từ một nước thu nhập trung bình hiện nay trở thành một nước thu nhập cao vào năm 2045. Trước những thách thức về thuế quan và sự gia tăng của chủ nghĩa bảo hộ trên thế giới, Việt Nam đang có xu hướng chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa vào xuất khẩu sang mô hình tăng trưởng dẫn dắt bởi đầu tư công. Tuy nhiên, Việt Nam lại đang phải đối mặt với nhiều hạn chế về tài khóa và tiền tệ.

Phân tích cụ thể về vấn đề này, PGS, TS. Phạm Thế Anh - Đại học Kinh tế Quốc dân - cho biết, về tài khóa, mặc dù tỷ lệ thu ngân sách so với GDP của Việt Nam tương đối tốt so với các nước trong khu vực, song cơ cấu thu đang có sự dịch chuyển đáng lo ngại khi tỷ trọng thu từ thuế và phí giảm, trong khi các khoản thu kém bền vững như thu từ đất lại tăng lên. Chi ngân sách chưa linh hoạt theo hướng nghịch chu kỳ kinh tế (tức là thắt chặt trong thời kỳ tăng trưởng cao và mở rộng trong thời kỳ nền kinh tế gặp phải các cú sốc tiêu cực), đặc biệt là tình trạng giải ngân đầu tư công chậm trễ, dẫn đến lượng vốn lớn không được sử dụng hiệu quả. Cơ cấu chi cũng bất hợp lý khi chi thường xuyên chiếm tỷ trọng lớn hơn so với chi đầu tư phát triển. Đồng thời, nghĩa vụ trả nợ có xu hướng tiệm cận ngưỡng cho phép. Điều này cho thấy dư địa tài khóa để tăng chi cho hàng loạt các dự án đầu tư quy mô lớn là rất hạn chế, đòi hỏi phải có nguồn thu mới bền vững và tái cơ cấu chi tiêu hiệu quả hơn.

Theo số liệu của Bộ Tài chính, tính đến cuối năm 2024, dư nợ công của Việt Nam khoảng 34,7% GDP, dư nợ Chính phủ khoảng 32,2% GDP, dư nợ vay nước ngoài của quốc gia khoảng 31,8% GDP.

Về tiền tệ, chính sách đa mục tiêu của Việt Nam, dù đã kiểm soát lạm phát và ổn định tỷ giá, vẫn còn nhiều bất cập. Sự can thiệp hành chính vào thị trường tiền tệ còn nặng nề, các công cụ lãi suất điều hành ít tác động thực tế và việc sử dụng hạn mức tăng trưởng tín dụng mang nặng tính hành chính. Tốc độ tăng cung tiền của Việt Nam vẫn rất cao so với tăng trưởng GDP, dẫn đến tỷ lệ tổng phương tiện thanh toán (M2) so với GDP và tín dụng so với GDP cao nhất khu vực, tiềm ẩn rủi ro lạm phát, bong bóng giá tài sản, mất giá tiền tệ và hạn chế dư địa nới lỏng.

Ngoài ra, theo các chuyên gia, lãi suất thực thấp và lãi suất trong nước thấp hơn lãi suất thế giới cũng gây khó khăn cho việc hạ lãi suất thị trường. Thêm vào đó, chất lượng tín dụng và đích đến của dòng vốn còn chưa hiệu quả, tiến độ triển khai các chuẩn mực quốc tế về an toàn hệ thống ngân hàng còn chậm, nợ xấu có nguy cơ gia tăng và khó xử lý. Tất cả những điều này tạo nên thách thức cho việc nới lỏng chính sách tiền tệ để hỗ trợ tăng trưởng.

Với những hạn chế về tài khóa và tiền tệ hiện hữu, các chuyên gia đánh giá, việc tăng cường đầu tư vào cơ sở hạ tầng với quy mô lớn đặt ra một thách thức không nhỏ cho Việt Nam. Nếu không có các chính sách đồng bộ để nâng cao hiệu quả chi tiêu công, thực hiện sự dịch chuyển hợp lý giữa các khoản chi và khai thác các nguồn thu mới bền vững thay thế cho các nguồn thu kém bền vững hoặc đang làm giảm động lực sản xuất và tiêu dùng, nền kinh tế Việt Nam rất dễ đối mặt với nguy cơ thâm hụt ngân sách cao và bất ổn kinh tế vĩ mô. Thêm vào đó, với dư địa chính sách tiền tệ hạn chế và tỷ lệ tín dụng/GDP đã ở mức cao, việc cố gắng mở rộng tiền tệ để kích thích đầu tư có thể gây ra lạm phát và bong bóng giá tài sản, tạo áp lực lên tỷ giá hối đoái, khiến dòng vốn không đi vào sản xuất và làm suy yếu ổn định kinh tế vĩ mô.

Cải cách chính sách tài khóa để tăng nguồn lực tài chính công

Theo các chuyên gia, trong bất kỳ mô hình tăng trưởng nào, các chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô (tiền tệ và tài khóa) luôn giữ vai trò quan trọng. Do vậy, để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số với việc thúc đẩy chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dẫn dắt bởi đầu tư công, Việt Nam cần có đủ nguồn lực tài chính cho các dự án hạ tầng lớn.

Để thực hiện được mục tiêu này, theo ông Phạm Thế Anh, vai trò của chính sách tài khóa cần được phát huy một cách tối ưu. Theo đó, trước hết, Việt Nam cần thu hẹp đáng kể chi thường xuyên của bộ máy nhà nước, kiểm soát chặt chẽ các khoản chi kém hiệu quả, từ đó ngân sách sẽ tiết kiệm được một lượng vốn lớn, có thể sử dụng tái phân bổ cho đầu tư phát triển hạ tầng. Bên cạnh đó, Việt Nam cần tích cực tìm kiếm các nguồn thu bền vững mới để thay thế một phần cho các nguồn thu truyền thống. Ở khía cạnh này, Việt Nam nên cân nhắc đánh thuế căn nhà thứ hai trở đi bởi nhiều lợi ích mà sắc thuế này có thể đem lại. Chẳng hạn như, thuế bất động sản sẽ tạo ra nguồn thu ổn định để tái đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng tại địa phương như công viên, đường, bệnh viện, trường học, từ đó nâng cao chất lượng sống và dịch vụ công. Hơn nữa, nguồn thu này cũng mở ra cơ hội để Việt Nam cắt giảm các loại thuế khác như thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân, những sắc thuế hiện đang làm giảm động lực sản xuất kinh doanh và tiêu dùng…

Bên cạnh sự cải cách trong chính sách tài khóa, theo các chuyên gia, chính sách tiền tệ được thiết kế hiệu quả cũng góp phần quan trọng vào việc đảm bảo ổn định vĩ mô và nền kinh tế đạt được mức tăng trưởng cao, bền vững. Theo đó, với chính sách tiền tệ, mục tiêu lạm phát phải được ưu tiên và tốc độ tăng trưởng cung tiền phải được kiểm soát một cách phù hợp với mục tiêu tăng trưởng và kiểm soát lạm phát. Sự gia tăng cung tiền quá cao trong thời gian dài có thể khiến nền kinh tế luôn tiềm ẩn sức ép lạm phát, bong bóng giá tài sản và rủi ro nợ xấu. Việc mở rộng chính sách tiền tệ một cách thái quá cũng sẽ khiến nguồn lực của xã hội đổ vào việc tìm kiếm lợi nhuận từ chênh lệch giá trên các thị trường tài sản thay vì đầu tư sản xuất. Hệ quả là, dư địa tiền tệ sẽ thấp, lãi suất sẽ luôn neo ở mức cao ngay cả khi nền kinh tế cần đến các biện pháp nới lỏng tiền tệ để kích thích đầu tư và tiêu dùng nhằm hỗ trợ cho mục tiêu tăng trưởng.

Đặc biệt, cả chính sách tiền tệ và tài khóa cần phải được thực hiện theo quy tắc, minh bạch và dễ dự đoán trong thời kỳ bình thường (không gặp phải các cú sốc) để các doanh nghiệp và người dân có thể đưa ra được các quyết định dài hạn. Các chính sách thay đổi liên tục, tạo bất ổn sẽ hướng nguồn lực vào các quyết định đầu cơ trên các thị trường tài sản hơn là đầu tư để thúc đẩy phát triển lâu dài cho nền kinh tế…/.