
Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, sáng 6/11, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Luật Thuế thu nhập cá nhân.
Qua thảo luận, các đại biểu cơ bản tán thành sự cần thiết ban hành Luật nhằm thể chế hóa các chủ trương của Đảng về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (SDĐPNN) đối với các cơ sở giáo dục trong nước tại Nghị quyết số 71-NQ/TW, Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị, chính sách tài chính và chính sách thuế đối với đất đai tại Nghị quyết số 21-NQ/TW.
Quy định rõ việc xác định diện tích chịu thuế suất 0,2%
Quan tâm đến việc sửa đổi, bổ sung Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, các ý kiến thống nhất với việc sửa đổi, bổ sung Luật này nhằm sử dụng công cụ thuế để điều tiết hành vi sử dụng đất, khuyến khích khai thác hiệu quả nguồn lực đất đai, đồng thời bổ sung chính sách ưu đãi đối với một số lĩnh vực và đối tượng cần được hỗ trợ.
Đại biểu Nguyễn Văn Huy - Đoàn ĐBQH tỉnh Hưng Yên đồng tình với việc bổ sung khoản 8 Điều 7 Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp: áp dụng thuế suất 0,2% đối với đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng, chậm đưa vào sử dụng và không áp dụng hạn mức. Đại biểu cho rằng, đây là giải pháp cần thiết để hạn chế tình trạng đầu cơ, găm giữ đất đai, gây lãng phí nguồn lực xã hội.
“Tuy nhiên, thực tế có những thửa đất diện tích lớn, trong đó một phần đã được đưa vào sử dụng, một phần chưa sử dụng hoặc dự án đang triển khai theo từng giai đoạn, có hạng mục đã hoàn thành hoặc đang tiếp tục thực hiện. Và nếu chỉ căn cứ vào tình trạng chung của cả thửa đất hoặc là dự án để áp dụng thuế suất 0,2% thì có thể dẫn đến việc đánh thuế cả phần diện tích đã được sử dụng đúng mục đích. Và điều này thì không hợp lý”, đại biểu nêu rõ.
Vì vậy, đại biểu Nguyễn Văn Huy đề nghị cần quy định rõ việc xác định diện tích chịu thuế suất 0,2% trong trường hợp một thửa đất có nhiều phần diện tích với tình trạng sử dụng khác nhau.
Đồng thời, đề nghị bổ sung vào khoản 8 Điều 7: Nguyên tắc trường hợp thửa đất có nhiều phần diện tích với tình trạng sử dụng khác nhau thì thuế suất 0,2% chỉ áp dụng đối với phần diện tích thực tế thuộc trường hợp bỏ hoang, không đưa vào sử dụng, chậm đưa vào sử dụng; phần diện tích đã được đưa vào sử dụng hợp pháp được áp dụng mức thuế suất tương ứng theo quy định của đợt này.
Đại biểu Nguyễn Văn Huy cho rằng, việc sửa đổi lần này cần hướng tới đánh giá đúng vào hành vi cần điều tiết, miễn giảm đúng đối tượng cần hỗ trợ và tổ chức thực hiện theo cách người dân dễ hiểu, dễ thực hiện. Có như vậy, chính sách thuế mới thực sự đi vào cuộc sống và phát huy được mục tiêu mà Luật sửa đổi cần hướng tới.
Cùng góp ý vào nội dung này, đại biểu Tô Ái Vang - Đoàn ĐBQH thành phố Cần Thơ cho rằng, quy định tại khoản 8 Điều 7 đang đánh đồng tất cả các hành vi bỏ hoang đất theo một mức thuế suất cào bằng 0,2% mà không phân định rõ nguyên nhân. Việc không tách biệt giữa lỗi chủ quan (do đầu cơ, tích trữ) và nguyên nhân khách quan (do thiên tai, bất khả kháng) là một thiếu sót pháp lý lớn, thiếu đi sự công bằng và nhân văn của pháp luật.
Do đó, đại biểu Tô Ái Vang kiến nghị: Bổ sung cụm từ vào cuối khoản 1 Điều 2 như sau: “..., ngoại trừ trường hợp đất không thể đưa vào sử dụng do thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu hoặc các nguyên nhân bất khả kháng khác có xác nhận của UBND cấp xã”.
Bên cạnh đó, đại biểu đề nghị Chính phủ xây dựng riêng một cơ chế miễn thuế, giãn thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và đất nông nghiệp hoang hóa đối với các địa bàn chịu ảnh hưởng trực tiếp của biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long.
“Thuế phải là công cụ điều tiết và nuôi dưỡng nguồn thu, chứ không thể là gánh nặng ảnh hưởng đến sinh kế của người dân trong lúc khó khăn”, đại biểu nhấn mạnh.
Đánh thuế đất bỏ hoang phải thận trọng, đảm bảo công bằng
Đồng tình với việc ủng hộ sử dụng công cụ thuế để hạn chế tình trạng đất bỏ hoang, găm giữ đất và chậm đưa đất vào sử dụng, làm lãng phí nguồn lực của quốc gia, đại biểu Dương Khắc Mai - Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng cho rằng, tại khoản 1 Điều 2 bổ sung khoản 8 Điều 7 dự thảo áp dụng mức thuế suất 0,2% đối với đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng, chậm đưa vào sử dụng.
Tuy nhiên, đại biểu nhận thấy, trong khái niệm về thời hạn xác định và các trường hợp loại trừ phụ thuộc lớn vào pháp luật về đất đai. Và nếu tiêu chí chưa thống nhất, người sử dụng đất có thể bị áp dụng khác nhau giữa các địa phương, đặc biệt có thể bị tính thuế dù việc chậm trễ xuất phát từ những nguyên nhân khách quan như giải phóng mặt bằng, bàn giao đất, thủ tục của cơ quan Nhà nước về điều chỉnh quy hoạch và những trường hợp bất khả kháng.
Vì vậy, đại biểu Dương Khắc Mai đề nghị cần làm rõ khái niệm này và tính toán kỹ lưỡng. Đồng thời, đề nghị quy định việc áp dụng thuế suất 0,2% chỉ thực hiện sau khi cơ quan có thẩm quyền về đất đai xác định bằng văn bản về tình trạng, về thời gian không đưa đất vào sử dụng và thông báo cho người sử dụng đất và cho phép được giải trình. Đây là những vấn đề rất quan trọng.
“Bởi vì đất bỏ hoang có nhiều nguyên nhân khách quan và cần phải đánh giá kỹ. Đồng thời, cần loại trừ hoặc có cơ chế để xử lý phù hợp với nguyên nhân khách quan không do lỗi của người sử dụng đất. Có như vậy khi chúng ta áp dụng điều luật mới đảm bảo khả thi và công bằng”, đại biểu lý giải.
Giải trình trước Quốc hội về nội dung này, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, thay mặt cho Cơ quan soạn thảo, Bộ Tài chính sẽ nghiêm túc tiếp thu đầy đủ tất cả các ý kiến trách nhiệm, xác đáng của các đại biểu Quốc hội, đồng thời phối hợp chặt chẽ với Cơ quan thẩm tra để nghiên cứu và hoàn thiện dự án Luật để báo cáo Quốc hội thông qua, đảm bảo sớm được đưa vào triển khai.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nêu rõ, tại phiên thảo luận này đã có nhiều ý kiến đại biểu góp ý về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đối với đất bỏ hoang. Bộ Tài chính đã cân nhắc và có trao đổi trong Chính phủ rất kỹ điều này.
“Việc xác định diện tích đất, cụ thể mảnh đất nào, thế nào là đất bỏ hoang thì sẽ phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, cơ quan thuế và cơ quan có chức năng quản lý nhà Nước về tài nguyên, về đất đai”, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh.
Dựa trên cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai mà chúng ta đang đẩy mạnh, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, cơ quan thuế và cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai đang phối hợp chặt chẽ với nhau để xác định chính xác, đảm bảo đúng mục đích, tránh tình trạng lạm dụng trốn thuế, lậu thuế cũng như lạm dụng khoản thu.






