Cụ thể, vị trí, diện tích: Vị trí các lô đất được xác định theo Bản đồ hiện trạng vị trí số 31259/GĐTNMT được Sở Tài nguyên và Môi trường (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường) phê duyệt ngày 19/7/2010, gồm: Lô đất 1.K7.9.HH (trước đây là lô R1): diện tích 31.461,7 m²; Lô đất 1.K7.5.HH (trước đây là lô R2): diện tích 8.167 m²; Lô đất 1.K7.6.HH (trước đây là lô R3): diện tích 7.342,7 m²; Lô đất 1.K7.8.HH (trước đây là lô R4): diện tích 19.616,2 m²; Lô đất 1.K7.7.HH (trước đây là lô R5): diện tích 12.235,1 m². Tổng diện tích 05 lô đất là 78.822,7 m²
Loại đất và chức năng sử dụng đất: Đất hỗn hợp nhóm nhà ở và dịch vụ theo Quyết định số 3068/QĐ-UBND ngày 30/9/2026 của UBND phường An Khánh phê duyệt điều chỉnh cục bộ quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 Khu dân cư tái định cư Bình Khánh (38,4 ha). Trong đó, Lô R1: chức năng ở 61,8%, chức năng dịch vụ 38,2%; Lô R2: chức năng ở 86%, chức năng dịch vụ 14%; Lô R3: chức năng ở 86,7%, chức năng dịch vụ 13,3%; Lô R4: chức năng ở 87,7%, chức năng dịch vụ 12,3%; Lô R5: chức năng ở 86,9%, chức năng dịch vụ 13,1%.
Các chỉ tiêu quy hoạch, kiến trúc và sử dụng đất thực hiện theo Quyết định số 3068/QĐ-UBND ngày 30/9/2026 và hồ sơ quy hoạch được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Tài sản gắn liền với đất gồm 3.790 căn hộ chung cư thuộc 02 dự án được đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước.
Cụ thể, Dự án 2.220 căn hộ: Lô R1 gồm 1.438 căn hộ thuộc 08 khối nhà A1, A2, A3, A4, B1, B2, B3, B4; Lô R2 gồm 416 căn hộ thuộc 03 khối nhà C1, C2, C3; Lô R3 gồm 366 căn hộ thuộc 03 khối nhà D1, D2, D3. Số lượng căn hộ được xác định theo Công văn số 2452/UBND-QLĐT ngày 15/6/2017 của UBND Quận 2 và Công văn số 27/BQL-XD ngày 08/01/2020 của cơ quan có liên quan.
Dự án 1.570 căn hộ: Lô R4 gồm 975 căn hộ thuộc 05 khối nhà A, B, C, D, E; Lô R5 gồm 595 căn hộ thuộc 06 khối nhà A, B, C, D, E, F.
Số lượng căn hộ được xác định theo Công văn số 1737/UBND-QLĐT ngày 26/4/2017 của UBND Quận 2 và Công văn số 27/BQL-XD ngày 08/01/2020 của cơ quan có liên quan.
Hình thức giao đất: Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất thông qua đấu giá quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 119 và khoản 1 Điều 125 Luật Đất đai năm 2024.
Thời hạn sử dụng đất: 50 năm, kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định giao đất cho người trúng đấu giá, theo quy định tại Điều 172 Luật Đất đai năm 2024 và pháp luật về đầu tư có liên quan. Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất và người nhận chuyển nhượng căn hộ được thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và pháp luật khác có liên quan.
Tổng giá khởi điểm đấu giá quyền sử dụng đất, công trình xây dựng và tài sản khác gắn liền với đất tại 05 lô đất, được xác định tại thời điểm tháng 10/2026 theo Quyết định số 7311/QĐ-UBND ngày 31/10/2026, là 18.253.844.177.000 đồng.
Trong đó, giá trị quyền sử dụng đất: 11.316.793.772.000 đồng; giá trị công trình xây dựng trên đất đối với 3.790 căn hộ chung cư: 6.360.120.743.000 đồng; giá trị phân bổ hạ tầng: 576.929.662.000 đồng.
Giá khởi điểm và việc tổ chức đấu giá đối với các lô đất thực hiện theo Quyết định số 7311/QĐ-UBND ngày 31/10/2026 và Phương án đấu giá được phê duyệt tại Quyết định số 6549/QĐ-UBND ngày 03/10/2026.
Tổ chức, cá nhân tham gia đấu giá có trách nhiệm nộp tiền đặt trước hoặc thực hiện bảo lãnh ngân hàng thay thế tiền đặt trước trong trường hợp pháp luật cho phép, theo Phương án đấu giá đã được phê duyệt và quy định của pháp luật về đấu giá tài sản, đất đai và các quy định có liên quan.
Tổng vốn đầu tư dự kiến là 39.843.763.561.000 đồng, gồm: Giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tính theo tổng giá khởi điểm đấu giá: 18.253.844.177.000 đồng; tổng mức đầu tư xây dựng dự kiến: 21.589.919.384.000 đồng (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng).
Tổng mức đầu tư xây dựng dự kiến của từng lô đất: Lô R1: 8.618.059.057.000 đồng; Lô R2: 2.236.793.752.000 đồng; Lô R3: 2.011.073.289.000 đồng; Lô R4: 5.372.929.136.000 đồng; Lô R5: 3.351.064.150.000 đồng.
Tổng vốn đầu tư dự kiến là cơ sở xác định điều kiện về vốn chủ sở hữu của người tham gia đấu giá theo quy định pháp luật. Tổng vốn đầu tư thực tế được xác định trên cơ sở giá trúng đấu giá, hồ sơ dự án đầu tư và các chi phí hợp pháp có liên quan.
Dự án không thuộc trường hợp phải thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư theo Điều 24 Luật Đầu tư năm 2025 và khoản 3 Điều 35 Nghị định số 96/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026 của Chính phủ. Người trúng đấu giá có trách nhiệm thực hiện các thủ tục về đầu tư, đất đai, xây dựng, nhà ở, kinh doanh bất động sản và các thủ tục khác có liên quan theo quy định pháp luật.
Tổ chức, cá nhân tham gia đấu giá phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật về đất đai, đấu giá tài sản, nhà ở, kinh doanh bất động sản và Phương án đấu giá được phê duyệt tại Quyết định số 6549/QĐ-UBND ngày 03/10/2026.
Tổ chức tham gia đấu giá quyền sử dụng đất để thực hiện dự án kinh doanh bất động sản phải đáp ứng điều kiện về vốn chủ sở hữu theo điểm c khoản 2 Điều 9 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023. Đối với dự án có quy mô sử dụng đất dưới 20 ha, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp không được thấp hơn 20% tổng vốn đầu tư dự kiến của dự án.
Trường hợp xác định tổng vốn đầu tư dự kiến của toàn bộ 05 lô đất là 39.843.763.561.000 đồng, mức vốn chủ sở hữu tối thiểu tương ứng là 7.968.752.712.200 đồng. Việc xác định mức vốn chủ sở hữu tối thiểu áp dụng đối với người tham gia đấu giá phải phù hợp với phạm vi, quy mô dự án và hình thức tổ chức đấu giá theo Phương án đấu giá đã được phê duyệt. Việc chứng minh, kiểm tra và đánh giá năng lực tài chính của người tham gia đấu giá thực hiện theo quy định pháp luật, bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan và không đặt thêm điều kiện hạn chế quyền tham gia đấu giá trái quy định.
Việc tham gia đấu giá theo hình thức liên danh, xác định năng lực tài chính, trách nhiệm của từng thành viên và việc thành lập tổ chức kinh tế sau khi trúng đấu giá (nếu có) phải phù hợp với Phương án đấu giá đã được phê duyệt và quy định của pháp luật về đất đai, đầu tư, doanh nghiệp, đấu giá tài sản và pháp luật khác có liên quan.
UBND Thành phố giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với Trung tâm Phát triển quỹ đất Thành phố và các cơ quan, đơn vị có liên quan tổ chức thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại 05 lô đất nêu tại Quyết định này theo đúng Phương án đấu giá đã được phê duyệt, trình tự, thủ tục và quy định pháp luật.
Chịu trách nhiệm về tính đầy đủ, chính xác, thống nhất, hợp pháp của hồ sơ đấu giá; kiểm tra, xác nhận nguồn gốc, hiện trạng, diện tích, ranh giới, mục đích sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, giá khởi điểm và các điều kiện tổ chức đấu giá theo quy định.
Đồng thời, chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, Sở Tư pháp, Trung tâm Phát triển quỹ đất Thành phố và các cơ quan, đơn vị có liên quan kiểm tra, xét duyệt điều kiện của người tham gia đấu giá theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và Phương án đấu giá đã được phê duyệt; bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan, bình đẳng và không đặt thêm điều kiện trái quy định pháp luật. Sau khi có kết quả đấu giá, chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan kiểm tra, hoàn thiện hồ sơ, trình Chủ tịch UBND Thành phố xem xét, ban hành quyết định công nhận kết quả trúng đấu giá theo quy định pháp luật.
Song song đó, theo dõi, đôn đốc việc thực hiện nghĩa vụ của người trúng đấu giá; kịp thời báo cáo, đề xuất UBND Thành phố xem xét, giải quyết các khó khăn, vướng mắc phát sinh vượt thẩm quyền.
Trường hợp phát hiện nội dung chưa thống nhất giữa hồ sơ đấu giá, Phương án đấu giá đã được phê duyệt và quy định pháp luật hiện hành, chủ động phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan rà soát, báo cáo, đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét, xử lý trước khi tổ chức đấu giá.
Sở Tư pháp phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường, Trung tâm Phát triển quỹ đất Thành phố và các cơ quan, đơn vị có liên quan hướng dẫn, kiểm tra việc tổ chức đấu giá, bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật về đấu giá tài sản và các quy định pháp luật có liên quan.
Trung tâm Phát triển quỹ đất Thành phố phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường và các cơ quan, đơn vị có liên quan tổ chức thực hiện các công việc phục vụ đấu giá theo Phương án đấu giá đã được phê duyệt và nhiệm vụ được giao; bảo đảm công khai, minh bạch, đúng quy định pháp luật.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 03/11/2026.






