13noxau.png
Việc triển khai các giải pháp xử lý nợ xấu cần bảo đảm đồng bộ, đủ mạnh và kịp thời. Ảnh: ST

Áp lực nợ xấu gia tăng

Theo số liệu tổng hợp từ báo cáo tài chính quý I/2026 của 27 ngân hàng niêm yết, tổng nợ xấu tính đến cuối tháng 3 đạt khoảng 292.160 tỷ đồng, tăng hơn 28.000 tỷ đồng so với cuối năm 2025, tương đương mức tăng khoảng 11%.

Tại phần lớn ngân hàng trong hệ thống, nợ xấu có xu hướng gia tăng; chỉ số ít nhà băng ghi nhận nợ xấu giảm. Không chỉ quy mô nợ xấu tăng, tốc độ gia tăng tại nhiều ngân hàng cũng thu hút sự chú ý của giới phân tích. Một số ngân hàng thậm chí ghi nhận mức tăng cao, dao động từ gần 50% đến trên 60%.

Áp lực nợ xấu hiện không còn tập trung ở một vài ngân hàng riêng lẻ mà đang lan rộng ra toàn hệ thống, trong bối cảnh tín dụng tăng tốc trở lại nhưng sức khỏe tài chính của nhiều doanh nghiệp vẫn chưa phục hồi bền vững.

Đáng chú ý, các khoản nợ tiềm ẩn rủi ro cũng có dấu hiệu gia tăng. Theo thống kê từ báo cáo tài chính của 27 ngân hàng niêm yết, tổng nợ nhóm 5 - nhóm có khả năng mất vốn - tính đến ngày 31/3/2026 ở mức 168.543 tỷ đồng, tăng 535 tỷ đồng so với cuối năm 2025.

Báo cáo của nhiều công ty chứng khoán cho thấy tỷ lệ nợ nhóm 2 - nhóm nợ cần chú ý - đang tăng tại nhiều ngân hàng. Đây thường được xem là “vùng đệm cảnh báo”, phản ánh nguy cơ một phần dư nợ có thể chuyển thành nợ xấu trong các quý tới nếu hoạt động sản xuất - kinh doanh và dòng tiền của khách hàng không cải thiện rõ rệt.

Ông Đặng Đình Thích - quyền Tổng giám đốc Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) - nhận định, nợ xấu hiện nay đã vượt ra khỏi phạm vi kỹ thuật của ngành ngân hàng, trở thành yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới ổn định tài chính và dư địa tăng trưởng của nền kinh tế.

Theo ông Thích, dù tỷ lệ nợ xấu nội bảng vẫn được kiểm soát, nhưng các chỉ dấu rủi ro đang gia tăng. Nợ xấu tiềm ẩn và các khoản nợ tái cơ cấu vẫn ở mức lớn; nhóm nợ rủi ro cao chiếm tỷ trọng đáng kể; nợ cần chú ý có xu hướng tăng, phản ánh áp lực chuyển nhóm nợ trong tương lai. Rủi ro nợ xấu đang có xu hướng tập trung vào bất động sản, xây dựng, xuất khẩu - những lĩnh vực nhạy cảm với biến động thị trường.

Các chuyên gia tài chính cho rằng, áp lực nợ xấu gia tăng phản ánh khó khăn kéo dài ở nhiều nhóm khách hàng doanh nghiệp và cá nhân, đặc biệt trong các lĩnh vực bất động sản, xây dựng, vật liệu và tiêu dùng. Trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng và huy động vốn lệch pha, việc tín dụng phục hồi nhanh trở lại có thể khiến rủi ro phát sinh nợ xấu mới gia tăng nếu chất lượng cho vay không được kiểm soát chặt chẽ.

Theo Công ty Chứng khoán Vietcombank, rủi ro nợ xấu của hệ thống ngân hàng năm 2026 vẫn cần được theo dõi chặt chẽ, nhất là tại những ngân hàng có tỷ trọng cho vay kinh doanh bất động sản vượt 30% tổng dư nợ.

Đẩy mạnh trích lập dự phòng, hoàn thiện cơ chế xử lý nợ

Nợ xấu tăng cũng đồng nghĩa áp lực trích lập dự phòng của các ngân hàng sẽ lớn hơn trong thời gian tới. Ứng phó với áp lực về chất lượng tài sản, nhiều ngân hàng đã lựa chọn giải pháp tăng mạnh chi phí dự phòng rủi ro tín dụng nhằm củng cố “bộ đệm” tài chính. Dữ liệu quý I/2026 cho thấy dự phòng rủi ro cho vay khách hàng toàn hệ thống đạt hơn 233.095 tỷ đồng, tăng 6,7% so với đầu năm.

Giới chuyên môn nhận định, trong bối cảnh hoạt động sản xuất - kinh doanh chưa phục hồi đồng đều, áp lực xử lý nợ xấu dự báo còn kéo dài. Do vậy, việc gia tăng dự phòng trong giai đoạn hiện nay không chỉ là phản ứng trước áp lực nợ xấu mà còn là bước chuẩn bị cho chu kỳ rủi ro mới của thị trường tín dụng.

Cùng với trích lập dự phòng, theo TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh, các nhà băng cần phân loại nợ thực chất hơn, không chỉ theo chuẩn kế toán mà còn dựa trên khả năng xử lý thực tế như thu hồi nhanh, tái cơ cấu hay chuyển giao cho VAMC.

TS. Cấn Văn Lực - Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia - đề xuất đẩy nhanh hoàn thiện khung pháp lý đồng bộ cho thị trường mua bán nợ. Theo ông, cần xem xét mở rộng quyền thu giữ tài sản bảo đảm cho các chủ thể ngoài ngân hàng; cho phép mua - bán nợ theo giá thị trường, kể cả dưới giá trị sổ sách; sớm xây dựng hành lang pháp lý cho chứng khoán hóa nợ; phát triển thị trường thứ cấp, hoàn thiện sàn giao dịch nợ xấu và hệ sinh thái các tổ chức trung gian.

Ở góc độ thực thi, đại diện Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam kiến nghị cơ chế đẩy nhanh tiến độ giải quyết vụ việc tại tòa án và cơ quan thi hành án; bảo đảm tuân thủ đúng quy định pháp luật về thời hạn tố tụng và thi hành án nhằm nâng cao hiệu quả xử lý, thu hồi nợ xấu của các tổ chức tín dụng.

Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước đã xác định rõ vai trò chủ chốt của VAMC trong xử lý nợ xấu, củng cố năng lực tài chính và giảm thiểu rủi ro hệ thống ngân hàng. Đồng thời, Nghị quyết đặt mục tiêu hình thành thị trường mua - bán nợ chuyên nghiệp, minh bạch và bền vững.

Theo TS. Nguyễn Quốc Hùng - chuyên gia tài chính, ngân hàng, để hình thành thị trường mua - bán nợ trong bối cảnh hiện nay, VAMC cần hội tụ đủ 4 yếu tố: Tăng vốn điều lệ lên tối thiểu 15.000-20.000 tỷ đồng; hoàn thiện hành lang pháp lý theo hướng trao thêm quyền cho VAMC; đẩy mạnh chuyển đổi số; có cơ chế thu hút nhân tài tham gia tái cấu trúc, pháp lý và định giá. Khi hội tụ các yếu tố đủ mạnh, VAMC sẽ không chỉ xử lý nợ xấu mang tính giai đoạn mà còn trở thành trung tâm tái cấu trúc tài sản chuyên nghiệp, có năng lực định giá và tư vấn tài chính cho toàn hệ thống.

Trong bối cảnh nền kinh tế đang cần dòng vốn để phục hồi và tăng trưởng, kiểm soát hiệu quả nợ xấu không chỉ là yêu cầu đối với riêng ngành ngân hàng mà còn là điều kiện quan trọng để củng cố ổn định tài chính vĩ mô. Việc đẩy mạnh trích lập dự phòng, hoàn thiện hành lang pháp lý, phát triển thị trường mua - bán nợ chuyên nghiệp sẽ góp phần khơi thông dòng vốn, hỗ trợ doanh nghiệp và bảo đảm an toàn cho hệ thống tài chính. Nếu được triển khai quyết liệt và đồng bộ, đây sẽ là nền tảng quan trọng để nợ xấu không trở thành lực cản đối với mục tiêu tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn tới./.